Những cây quý hiếm và nguy cấp nhất ở Việt Nam tập trung vào năm nhóm: gỗ quý (trắc, cẩm lai, sưa, gõ đỏ, giáng hương), cây lá kim (hoàng đàn, bách vàng, thông nước, pơ mu, thông đỏ), lan rừng (đặc biệt là lan hài), cây thuốc hoang dã như sâm Ngọc Linh, và cây cho trầm như dó bầu. Nhiều loài trong số đó có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN ở các bậc bị đe doạ.
Thực vật ít khi được kể chuyện như hổ hay sao la, nhưng cách chúng biến mất lại có quy luật rõ: bị khai thác chọn lọc đúng những cá thể tốt nhất, mọc chậm đến mức không kịp bù, sống trong vùng phân bố hẹp, và nơi sống bị thu hẹp từng mảng. Bài này đi qua từng nhóm, giải thích cơ chế suy giảm và chỉ ra những điều người đọc phổ thông có thể làm.
Việt Nam giàu thực vật đến mức nào
Các thống kê thường được dẫn cho thấy Việt Nam có trên một vạn loài thực vật có mạch đã được ghi nhận, và con số này vẫn tăng đều vì mỗi năm các nhà thực vật học lại mô tả thêm loài mới, nhiều nhất từ các khối núi đá vôi phía bắc và dãy Trường Sơn. Một tỉ lệ đáng kể là loài đặc hữu, tức chỉ có ở Việt Nam hoặc ở vùng biên giới liền kề.
Sự giàu có này đến từ địa hình bị chia cắt. Mỗi khối núi đá vôi giống một hòn đảo giữa đồng bằng và thung lũng: hạt giống của một loài lan hay một cây lá kim mọc trên vách đá khó vượt sang khối núi khác. Qua thời gian dài, quần thể bị cách li tiến hoá theo hướng riêng. Kết quả là nhiều loài chỉ có ở vài đỉnh núi, có loài chỉ biết từ một vài điểm thu mẫu.
Mặt trái của đặc hữu là mong manh. Một loài có vùng phân bố vài chục cây số vuông thì chỉ cần một đợt khai thác hay một con đường mới mở là cả loài bị kéo xuống sát bờ vực. Không có quần thể dự phòng ở nơi khác. Vì vậy với thực vật, câu hỏi "còn bao nhiêu cây" quan trọng không kém câu hỏi "còn ở bao nhiêu nơi".
Năm nhóm cây nguy cấp tiêu biểu
Bảng gom các nhóm hay được hỏi nhất. Bậc nguy cấp của từng loài có thể được đánh giá lại theo thời gian, nên khi trích dẫn cho bài học hay bài viết bạn nên tra bản Danh lục Đỏ IUCN và Sách Đỏ Việt Nam mới nhất.
| Nhóm | Loài tiêu biểu | Sức ép chính | Vì sao khó phục hồi |
|---|---|---|---|
| Gỗ quý họ Đậu | Trắc (Dalbergia cochinchinensis), cẩm lai (Dalbergia oliveri), sưa (Dalbergia tonkinensis), gõ đỏ (Afzelia xylocarpa) | Khai thác lấy gỗ lõi làm đồ cao cấp | Gỗ lõi hình thành sau nhiều chục năm; cây lớn bị chặt trước |
| Cây lá kim | Hoàng đàn, bách vàng, thông nước, pơ mu, thông đỏ | Lấy gỗ thơm, mất rừng núi đá và đầm lầy | Tái sinh tự nhiên kém, quần thể nhỏ và rời rạc |
| Lan rừng | Các loài lan hài (Paphiopedilum), lan kim tuyến | Thu hái bán cho người chơi lan | Hạt cần nấm cộng sinh mới nảy mầm; cây ra hoa sau nhiều năm |
| Cây thuốc hoang dã | Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis), hoàng liên | Đào cả củ, cả rễ | Lấy củ là lấy cả cây; vùng sống hẹp ở núi cao |
| Cây cho trầm | Dó bầu (Aquilaria crassna) và các loài dó khác | Chặt hạ để tìm phần gỗ có trầm | Chỉ một phần nhỏ cây có trầm nên phải hạ rất nhiều cây |
Điểm chung của cả năm nhóm là giá trị kinh tế tập trung vào một bộ phận đòi hỏi thời gian dài mới có: gỗ lõi, củ già, phần gỗ đã hoá trầm. Thời gian để tạo ra bộ phận ấy dài hơn nhiều so với tốc độ người ta lấy đi.
Cơ chế khiến một loài cây trượt dần xuống bậc nguy cấp
Khai thác chọn lọc lấy đi cây tốt nhất. Người khai thác gỗ quý chọn cây to, thân thẳng, nhiều gỗ lõi. Những cây ấy cũng là cây mẹ ra nhiều hạt nhất và mang đặc điểm sinh trưởng tốt. Sau vài lượt, quần thể còn lại chủ yếu là cây nhỏ, cây cong queo, sức sinh sản thấp. Số cây chưa giảm hết nhưng "chất lượng di truyền" của quần thể đã bị bào mòn.
Sinh trưởng chậm, tái sinh kém. Nhiều cây lá kim trên núi đá vôi cần hàng chục năm mới ra nón, hạt nảy mầm thấp, cây con lại chết nhiều trong mùa khô. Một quần thể như vậy chịu được rất ít tổn thất.
Mảnh rừng bị chia cắt. Khi rừng bị cắt thành mảnh, côn trùng thụ phấn và động vật phát tán hạt không đi lại được. Cây còn đó nhưng không còn đậu quả, hoặc hạt chỉ rơi quanh gốc.
Món nợ tuyệt chủng. Cây sống lâu nên một quần thể đã mất khả năng tái sinh vẫn có thể đứng đó vài chục năm. Nhìn qua tưởng còn, thật ra đang chờ chết dần. Giới sinh thái gọi hiện tượng này là món nợ tuyệt chủng: cái giá phải trả của sự phá huỷ hôm nay sẽ đến hạn trong tương lai.
Thực vật được pháp luật bảo vệ theo nguyên lý nào
Việt Nam có danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ ban hành, chia thành các nhóm. Nhóm nghiêm ngặt nhất gồm những loài bị cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại; nhóm thứ hai được khai thác có kiểm soát, phải chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Bên cạnh đó là danh mục loài ưu tiên bảo vệ theo Luật Đa dạng sinh học và các phụ lục CITES đối với buôn bán quốc tế. Hành vi khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép thực vật thuộc danh mục có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tuỳ mức độ.
Cần phân biệt hai thứ hay bị nhầm. "Gỗ nhóm I" trong cách gọi của thị trường là bảng phân loại gỗ theo tính chất cơ lý và giá trị sử dụng, có từ rất lâu, không phải danh mục bảo tồn. Một loài gỗ nhóm I chưa chắc đã nguy cấp, và một loài nguy cấp có khi gỗ lại không thuộc nhóm I. Khi gặp tin tức về gỗ quý, nên xem câu chuyện đang nói về bảng nào.
Danh mục và văn bản thay đổi theo thời gian. Nếu bạn cần căn cứ pháp lý cụ thể, hãy tra văn bản hiện hành trên cổng thông tin chính thức thay vì dựa vào bài phổ biến.
Vì sao cây quý hiếm ít được chú ý hơn thú hoang
Một con vượn bị bắt dễ khiến người ta xúc động; một gốc trắc bị cưa thì không. Các nhà giáo dục sinh học đã mô tả xu hướng con người không để ý đến cây cối quanh mình, coi chúng như phông nền. Hệ quả là các chiến dịch bảo tồn thực vật có ít tiền và ít người quan tâm hơn hẳn, dù số loài cây bị đe doạ trên thế giới lớn hơn nhiều so với số loài thú bị đe doạ.
Thêm vào đó, mất mát ở thực vật thường lặng lẽ. Không có xác để chụp ảnh, không có tiếng kêu. Một loài lan bị thu hái sạch khỏi vách đá nơi nó được phát hiện có thể không ai biết cho đến khi nhóm khảo sát quay lại sau mười năm. Một loài gỗ quý bị chặt hết cây to thì trên ảnh vệ tinh rừng vẫn xanh.
Chính vì lặng lẽ nên thông tin đúng càng quan trọng. Khi biết một loài cây có giá trị đặc biệt và đang bị đe doạ, người ta bắt đầu nhìn rừng khác đi: không chỉ hỏi rừng còn bao nhiêu héc-ta mà hỏi rừng còn những loài gì.
Những điều đang được làm để giữ cây quý
Cách bền nhất vẫn là giữ cây tại chỗ, trong hệ thống vườn quốc gia và khu bảo tồn, nơi nhiều loài gỗ quý, cây lá kim và lan còn quần thể đáng kể. Song song là bảo tồn chuyển chỗ: thu hạt, giâm hom, nuôi cấy mô để đưa cây vào vườn thực vật, vườn sưu tập và ngân hàng hạt giống. Với một số loài như bách vàng hay thông nước, nhân giống vô tính đã giúp tạo ra cây con trồng ở nhiều nơi, giảm nguy cơ mất trắng khi một quần thể gặp sự cố.
Gây trồng loài có giá trị kinh tế cũng là một hướng giảm sức ép lên cây rừng, ví dụ trồng dó để tạo trầm hay trồng sâm dưới tán rừng. Nhưng hướng này có mặt trái: nếu không truy xuất được nguồn gốc, hàng khai thác lậu từ rừng có thể được "rửa" thành hàng trồng. Vì thế việc trồng chỉ giúp bảo tồn khi đi kèm kiểm soát chặt nguồn gốc.
Cuối cùng là cộng đồng sống gần rừng. Nhiều chương trình giao khoán bảo vệ rừng và hỗ trợ sinh kế đã cho thấy người dân địa phương là lực lượng giữ rừng hiệu quả khi họ được hưởng lợi từ rừng còn đứng.
Mỗi người làm được gì cho cây quý hiếm
Phần lớn sức ép lên cây quý đến từ phía người mua. Vài thói quen nhỏ cắt được một phần đường dây ấy:
- Không mua lan rừng, cây cảnh "bứng từ rừng", gốc cây rừng làm cảnh. Lan nhân giống trong phòng thí nghiệm đẹp không kém và không lấy đi cá thể hoang dã.
- Với đồ gỗ, hỏi nguồn gốc gỗ và giấy tờ. Gỗ trồng như keo, cao su, thông trồng đủ dùng cho hầu hết nhu cầu trong nhà.
- Không mua sâm, củ, rễ được quảng cáo là "rừng tự nhiên" của loài quý; đó chính là thứ làm cạn quần thể hoang dã.
- Khi đi rừng, không bẻ cành, không hái hoa lan, không mang cây con về. Chụp ảnh là đủ, và tránh đăng vị trí chính xác của cây quý lên mạng xã hội.
- Khi thấy hàng bán thực vật nghi thuộc danh mục cấm, có thể báo cơ quan kiểm lâm địa phương.
Không việc nào trong số đó cần chuyên môn. Chúng chỉ cần người ta biết rằng một chậu lan hay một bộ bàn ghế có thể mang theo câu chuyện của cả một loài.
Câu hỏi thường gặp
Loài cây nào được coi là quý hiếm nhất Việt Nam?
Không có một bảng xếp hạng chính thức nào. Các loài thường được nêu gồm hoàng đàn, bách vàng, thông nước, sâm Ngọc Linh, một số loài lan hài và các loài gỗ họ Đậu như trắc, cẩm lai, sưa. Mức độ nguy cấp nên xem theo bậc trong Danh lục Đỏ IUCN và Sách Đỏ Việt Nam, vì mỗi loài bị đe doạ theo cách khác nhau.
Cây quý hiếm và cây có giá trị cao có phải là một không?
Không hẳn. Nhiều loài quý hiếm là vì phân bố hẹp hoặc quần thể nhỏ, không có giá trị thương mại gì. Ngược lại, giá trị thương mại cao thường là lý do khiến một loài trở nên hiếm. Bảo tồn quan tâm đến nguy cơ tuyệt chủng, không quan tâm đến giá bán.
Trồng cây quý trong vườn nhà có giúp bảo tồn không?
Có thể có ích nếu cây giống có nguồn gốc hợp pháp từ nhân giống, vì nó làm tăng số cá thể ngoài tự nhiên. Nhưng nếu cây giống bứng từ rừng thì việc trồng lại làm hại quần thể hoang dã. Cây trồng trong vườn cũng không thay thế được quần thể trong hệ sinh thái tự nhiên.
Có bao nhiêu loài thực vật trong Sách Đỏ Việt Nam?
Số lượng thay đổi theo từng lần xuất bản và cách tính loài hay dưới loài. Bản Sách Đỏ gần nhất có vài trăm đơn vị phân loại thực vật được đánh giá ở các bậc bị đe doạ. Nếu cần con số chính xác cho bài học, nên tra trực tiếp ấn bản đang dùng.
Vì sao cây quý hiếm thường mọc trên núi đá vôi?
Núi đá vôi có đất mỏng, khô, nhiều khe đá, mỗi khối núi lại tách biệt nên hình thành nhiều loài đặc hữu thích nghi riêng. Nơi khó tiếp cận cũng giúp vài loài sống sót lâu hơn. Tuy vậy, khai thác đá và đốt nương đang thu hẹp chính những nơi trú ẩn này.
Báo tin về cây quý hiếm ở đâu là đúng?
Thông tin phát hiện hay chặt phá cây quý nên báo cho cơ quan kiểm lâm hoặc ban quản lý khu bảo tồn tại địa phương. Không nên đăng tọa độ chính xác lên mạng, vì chính thông tin đó có thể dẫn người thu hái đến.