Trắc và cẩm lai là hai loài cây gỗ thuộc chi Trắc (Dalbergia) trong họ Đậu, nổi tiếng vì gỗ lõi màu đỏ sẫm đến tím đen, nặng, bóng, vân đẹp. Chính phần gỗ lõi ấy khiến chúng bị khai thác ráo riết suốt hơn hai thập kỷ để làm đồ nội thất kiểu cổ điển, đến mức các loài Dalbergia Đông Nam Á được coi là nhóm cây gỗ bị buôn bán trái phép nhiều nhất thế giới trong nhiều báo cáo của cơ quan quản lý và tổ chức bảo tồn.
Trắc (Dalbergia cochinchinensis) và cẩm lai (Dalbergia oliveri) đều nằm trong nhóm bị đe doạ của Danh lục Đỏ IUCN, và từ năm 2016 toàn bộ chi Dalbergia được đưa vào Phụ lục II CITES. Bài này giải thích vì sao gỗ lõi quý lại là gánh nặng sinh học, chuyện gì đã xảy ra với các khu rừng có trắc, và điều gì đang được làm.
Trắc, cẩm lai, sưa là những cây nào
Chi Dalbergia có hàng trăm loài trải khắp vùng nhiệt đới, từ cây gỗ lớn đến dây leo. Ở Việt Nam, các tên quen thuộc là trắc, cẩm lai, sưa (còn gọi là huê, Dalbergia tonkinensis), cẩm lai Bà Rịa và một số loài trắc dây ít giá trị gỗ. Trắc và cẩm lai là cây gỗ nhỡ đến lớn của rừng khô và rừng nửa rụng lá ở bán đảo Đông Dương, phân bố qua Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Sưa mọc ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ, nhiều cây được trồng từ lâu quanh làng, chùa, đình.
Cây trẻ của các loài này có gỗ dác màu trắng ngà, chưa có giá trị. Gỗ lõi sẫm màu chỉ hình thành dần khi cây già đi, do tế bào gỗ phía trong chết và tích tụ các hợp chất tạo màu, chống mục. Muốn có một khối gỗ lõi đủ lớn để xẻ tấm phải chờ cây nhiều chục năm tuổi. Đó là điểm mấu chốt: thứ người ta săn lùng là sản phẩm của thời gian, không phải của tốc độ mọc.
Trên thị trường, tên gọi gỗ rất lộn xộn. "Cẩm lai", "trắc", "hồng mộc" có khi dùng cho cả gỗ nhập từ châu Phi hay Mỹ Latinh thuộc những loài khác hẳn. Vì vậy số liệu buôn bán theo tên thương mại thường không phản ánh đúng một loài sinh học nào.
Vì sao nhu cầu gỗ lõi bùng lên
Gỗ Dalbergia có lịch sử dùng lâu đời trong đồ gỗ cao cấp châu Á. Từ khoảng những năm 2000, nhu cầu đồ nội thất phỏng theo phong cách cổ điển tăng vọt ở thị trường Đông Á, khiến giá gỗ lõi tăng nhiều lần. Khi trữ lượng ở nơi gần thị trường cạn, đường dây khai thác dịch dần sang các khu rừng xa hơn ở Đông Dương, rồi sang tận châu Phi và Madagascar với các loài Dalbergia khác.
Áp lực đó dồn lên những khu rừng vốn đã ít cây trưởng thành. Ở một số khu bảo tồn tại Đông Nam Á, kiểm lâm đã nhiều lần đụng độ với các nhóm khai thác trái phép có vũ trang, có những vụ gây thương vong ở cả hai phía. Gỗ trắc trở thành ví dụ điển hình cho việc một mặt hàng thực vật có thể kéo theo tội phạm có tổ chức chẳng khác gì ngà voi hay sừng tê.
Mặt trái ít người thấy là cây non không thể thay thế cây già trong chuỗi buôn bán, nên người khai thác buộc phải tìm những cây cuối cùng còn gỗ lõi. Càng hiếm thì giá càng cao, giá càng cao thì động lực đi tìm cây cuối cùng càng lớn. Đây là vòng xoáy mà giới bảo tồn gọi là "hiệu ứng khan hiếm".
So sánh nhanh vài loài Dalbergia và gỗ quý cùng nhóm
Bảng dưới chỉ để phân biệt các tên hay gặp. Bậc IUCN của nhiều loài gỗ đã được cập nhật qua nhiều đợt; khi cần trích dẫn, hãy tra bản mới nhất.
| Loài | Tên khoa học | Vùng sống tự nhiên | Ghi chú bảo tồn |
|---|---|---|---|
| Trắc | Dalbergia cochinchinensis | Rừng khô, nửa rụng lá Đông Dương | Nhóm bị đe doạ trên Danh lục Đỏ; Phụ lục II CITES từ 2013 |
| Cẩm lai | Dalbergia oliveri | Rừng khô, rừng hỗn giao Đông Dương và Myanmar | Nhóm bị đe doạ; Phụ lục II CITES theo cả chi từ 2016 |
| Sưa (huê) | Dalbergia tonkinensis | Miền Bắc và Bắc Trung Bộ | Nhóm bị đe doạ; cây trồng lâu năm cũng bị trộm cưa |
| Giáng hương | Pterocarpus macrocarpus | Rừng khô Đông Dương | Không cùng chi nhưng chịu sức ép tương tự |
| Gõ đỏ | Afzelia xylocarpa | Rừng khô Đông Dương | Gỗ quý họ Đậu, quần thể cây lớn suy giảm mạnh |
Điểm chung: cả năm loài đều mọc ở rừng khô và nửa rụng lá, kiểu rừng bị chuyển đổi sang đất nông nghiệp nhiều nhất ở Đông Dương. Mất rừng và khai thác chọn lọc cộng hưởng với nhau.
CITES đã can thiệp thế nào
CITES là công ước quốc tế kiểm soát buôn bán động thực vật hoang dã qua biên giới. Loài ở Phụ lục II không bị cấm buôn hoàn toàn, nhưng mỗi lô hàng xuất khẩu phải có giấy phép, và nước xuất khẩu phải xác nhận việc khai thác không gây hại cho sự tồn tại của loài ngoài tự nhiên.
Trắc được đưa vào Phụ lục II tại hội nghị các bên năm 2013. Ba năm sau, năm 2016, các bên quyết định đưa toàn bộ chi Dalbergia vào Phụ lục II (một loài Nam Mỹ đã ở Phụ lục I từ trước). Lý do đưa cả chi là thực tế ngoài biên giới: nhân viên hải quan không thể phân biệt bằng mắt gỗ trắc với gỗ của hàng chục loài họ hàng, nên chỉ quản lý một loài thì hàng lậu sẽ đội tên loài khác. Sau đó các bên đã điều chỉnh để miễn trừ một số sản phẩm thành phẩm nhỏ như nhạc cụ, vốn dùng rất ít gỗ.
CITES không tự trồng thêm cây nào. Nó chỉ có hiệu lực khi nước xuất và nước nhập kiểm soát nghiêm, và khi các phương pháp giám định như phân tích ADN gỗ hay phân tích hoá học được dùng để xác định loài. Việc giám định gỗ bằng ADN và đồng vị đang được phát triển chính vì những vụ như trắc.
Trắc ngoài rừng hôm nay ra sao
Không có con số đếm toàn bộ cá thể trắc hay cẩm lai còn lại. Các khảo sát rừng ở Đông Dương nhìn chung cho thấy cây trưởng thành có đường kính lớn đã hiếm, quần thể chủ yếu là cây non và cây chồi mọc lại từ gốc cũ. Các mô hình đánh giá rủi ro cho các loài này đều dự báo suy giảm tiếp nếu không có biện pháp mạnh.
Một điểm sáng là trắc, sưa, giáng hương đều tái sinh khá tốt khi được để yên, chồi gốc mọc lại sau khi cây bị chặt. Điều đó có nghĩa là nếu áp lực khai thác giảm, rừng có thể dần có lại cây lớn, dù phải mất nhiều thập kỷ. Các chương trình trồng bổ sung trắc và cẩm lai cũng đã được thực hiện ở một số địa phương.
Với sưa thì câu chuyện khác: những cây sưa cổ trồng quanh đình làng ở miền Bắc từng bị trộm cưa liên tiếp trong thời kỳ giá sưa lên cao. Một số làng phải lắp đèn, cử người canh, có nơi bọc thân cây bằng lưới thép. Cây sưa trở thành tài sản phải bảo vệ như của quý trong nhà.
Rừng khô nơi trắc và cẩm lai sống còn chịu thêm hai sức ép ít được nhắc. Một là cháy rừng mùa khô lặp lại hằng năm, giết nhiều cây non trước khi chúng kịp lớn. Hai là chăn thả gia súc thả rông trong rừng, gặm cây tái sinh. Cây chồi gốc có sức sống tốt, nhưng nếu năm nào cũng bị cháy hay bị gặm thì không bao giờ vượt lên thành cây gỗ.
Làm sao biết một khối gỗ là trắc hay không
Quản lý buôn bán gỗ chỉ có ý nghĩa khi người kiểm tra xác định được loài. Đây là phần khó nhất của câu chuyện Dalbergia. Gỗ đã xẻ, đã đánh bóng hay đã đóng thành đồ thì mất hết lá, hoa, quả, vốn là những đặc điểm dùng để định loài cây sống. Nhân viên kiểm tra chỉ còn trong tay một khối gỗ.
Bước đầu tiên là giải phẫu gỗ: cắt phẳng mặt cắt ngang, nhìn qua kính lúp phóng đại khoảng mười lần để xem cách sắp xếp mạch gỗ, tia gỗ, nhu mô. Cách này đủ để nhận ra chi Dalbergia nói chung, nhưng thường không đủ để tách các loài gần nhau trong cùng chi. Một người giám định có kinh nghiệm cũng khó phân biệt chắc chắn trắc với vài loài Dalbergia nhập khẩu có màu và vân tương tự.
Vì thế các phòng thí nghiệm giám định gỗ trên thế giới đã phát triển thêm các phương pháp hoá học: lấy một mảnh gỗ rất nhỏ, phân tích phổ khối lượng các hợp chất trong gỗ lõi, rồi so với thư viện mẫu chuẩn của từng loài. Giải trình tự ADN cũng được dùng, dù ADN trong gỗ lõi khô thường bị phân huỷ nhiều nên khó trích. Một hướng khác là phân tích đồng vị bền để đoán vùng địa lý nơi cây đã mọc.
Tất cả các phương pháp ấy đều cần mẫu đối chứng chuẩn, lấy từ cây đã được định loài chắc chắn tại rừng. Bộ sưu tập mẫu gỗ có giá trị pháp lý như vậy chính là hạ tầng thầm lặng của bảo tồn gỗ quý, và Đông Nam Á vẫn còn nhiều khoảng trống ở mảng này.
Bài học từ câu chuyện gỗ Dalbergia
Thứ quý nhất của cây là thứ chậm nhất. Mọi loài bị khai thác vì một bộ phận cần thời gian dài mới có đều dễ rơi vào vòng suy giảm, vì không thể "tăng tốc" để bù lại.
Quản lý theo nhóm loài thay vì từng loài. Khi các loài khó phân biệt, quản lý từng loài lẻ sẽ để lọt hàng. Cách đưa cả chi vào CITES là bài học được áp dụng cho các nhóm khác.
Người tiêu dùng là một mắt xích. Chừng nào còn người sẵn sàng trả giá cao cho một bộ bàn ghế gỗ quý không rõ nguồn gốc, chừng ấy còn người vào rừng tìm cây cuối cùng. Hỏi giấy tờ, chọn gỗ trồng là cách cắt cầu từ phía mình.
Cây vẫn có cơ hội. Khác với nhiều loài thú, cây gỗ họ Đậu có khả năng mọc lại. Bảo vệ được cây non hôm nay là có rừng trắc cho thế hệ sau.
Khoa học giám định là một phần của bảo tồn. Luật chỉ mạnh bằng khả năng chứng minh vi phạm. Đầu tư vào bộ mẫu gỗ chuẩn và phòng thí nghiệm giám định là cách để những quy định trên giấy có hiệu lực ngoài cửa khẩu.
Câu hỏi thường gặp
Gỗ trắc và gỗ cẩm lai khác nhau thế nào?
Cả hai thuộc chi Dalbergia nhưng là hai loài khác nhau. Gỗ trắc thường đỏ sẫm đến tím đen, rất nặng, vân mịn; gỗ cẩm lai có màu đỏ cam đến nâu đỏ xen các sọc đen rõ hơn. Phân biệt bằng mắt không chắc chắn, giám định chính xác cần phòng thí nghiệm gỗ.
Có được mua bán đồ gỗ trắc không?
Tuỳ nguồn gốc. Loài thuộc danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thì khai thác, mua bán phải có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp và tuân theo quy định hiện hành. Xuất nhập khẩu còn phải có giấy phép CITES. Nếu không chắc, hãy tra văn bản pháp luật hiện hành hoặc hỏi cơ quan kiểm lâm.
Cây sưa trồng trong vườn nhà có được bán không?
Cây trồng có thể được khai thác và bán, nhưng thường phải chứng minh đó là cây trồng và làm thủ tục với cơ quan kiểm lâm theo quy định hiện hành. Quy định thay đổi theo thời gian, nên nên hỏi trực tiếp cơ quan quản lý ở địa phương trước khi giao dịch.
Vì sao gỗ lõi trắc chìm trong nước?
Gỗ lõi trắc có khối lượng riêng rất cao do thành tế bào dày và chứa nhiều hợp chất tích tụ, nên nặng hơn nước. Đây là đặc tính chung của nhiều loài gỗ lõi sẫm màu nhiệt đới, gắn với quá trình hoá lõi diễn ra chậm trong nhiều chục năm.
CITES Phụ lục II có nghĩa là cấm buôn bán không?
Không. Phụ lục II cho phép buôn bán quốc tế nhưng mỗi lô hàng phải có giấy phép xuất khẩu, kèm xác nhận khai thác hợp pháp và không gây hại cho loài. Cấm buôn bán thương mại gần như hoàn toàn là quy định của Phụ lục I.
Trồng trắc có giúp giảm khai thác trộm không?
Về lâu dài có thể, nếu có nguồn gỗ trồng hợp pháp đủ lớn và được truy xuất rõ. Nhưng trắc cần nhiều chục năm mới có gỗ lõi, nên trong ngắn hạn việc trồng không làm giảm nhu cầu với cây rừng. Bảo vệ rừng hiện có vẫn là việc quan trọng nhất.