Việt Nam có khoảng ba mươi loài cây lá kim (thông, bách, hoàng đàn, pơ mu, thông đỏ, dẻ tùng…), con số không lớn nhưng đáng chú ý vì nằm ở vùng nhiệt đới. Phần lớn trong số đó được đánh giá là bị đe doạ ở các mức khác nhau, khiến cây lá kim trở thành một trong những nhóm thực vật nguy cấp nhất cả nước tính theo tỉ lệ.
Những cái tên được nhắc nhiều là hoàng đàn, bách vàng (một chi mới cho khoa học được mô tả năm 2002), pơ mu, thông đỏ, thông Pà Cò, sa mộc dầu và thông nước. Bài này giải thích vì sao một nhóm cây cổ xưa lại sống được ở Việt Nam, vì sao chúng suy giảm nhanh và những việc đã làm để giữ chúng lại. Thông nước có câu chuyện riêng, được kể ở một bài khác.
Cây lá kim làm gì ở xứ nhiệt đới
Cây lá kim thuộc nhóm thực vật hạt trần, có lịch sử lâu hơn cây có hoa rất nhiều. Từ khi cây có hoa trở nên thống trị, cây lá kim lùi dần về những nơi cây có hoa cạnh tranh kém: vùng lạnh, đất nghèo, núi cao, vách đá. Ở Việt Nam, những nơi như vậy là đỉnh và sườn núi đá vôi phía bắc, các dãy núi cao như Hoàng Liên Sơn, cao nguyên Lâm Viên và một vài vùng đầm lầy đặc biệt.
Vì sống ở những nơi tách biệt, nhiều quần thể cây lá kim Việt Nam là "di tích" còn sót lại của vùng phân bố rộng hơn trong quá khứ. Có loài chỉ còn ở vài khối núi, mỗi khối vài chục đến vài trăm cây. Đó là lý do các nhà thực vật học coi Việt Nam là một điểm nóng của cây lá kim ở châu Á: số loài không nhiều, nhưng tỉ lệ loài hiếm, loài đặc hữu, loài di tích rất cao.
Sống ở nơi khắc nghiệt cũng làm chúng mọc chậm. Một cây bách hay hoàng đàn trên đá vôi có thể cần cả trăm năm mới đạt kích thước mà ở đất tốt chỉ cần vài chục năm. Chính gỗ mọc chậm ấy lại mịn, thơm, bền, và điều đó dẫn đến rắc rối.
Một dòng dõi cây cổ trong bức tranh lịch sử sự sống
Thực vật hạt trần, nhóm mà cây lá kim là đại diện đông nhất ngày nay, đã có mặt từ cuối Đại Cổ sinh, khoảng hơn ba trăm triệu năm trước. Trong suốt Đại Trung sinh, thời của khủng long, rừng lá kim cùng tuế và bạch quả là thảm thực vật chủ đạo trên nhiều lục địa. Nhiều hoá thạch gỗ và nón của các họ cây lá kim ngày nay đã có tuổi hàng chục đến hàng trăm triệu năm.
Từ kỷ Phấn trắng, cây có hoa phát triển mạnh và dần chiếm ưu thế ở hầu hết các sinh cảnh màu mỡ. Cây có hoa có lợi thế ở chỗ sinh trưởng nhanh, thụ phấn nhờ côn trùng hiệu quả, hạt được bảo vệ trong quả. Cây lá kim không biến mất mà rút về những nơi khó khăn hơn, nơi tốc độ không phải là lợi thế: đất nghèo, lạnh, khô, đá.
Đặt trong bức tranh đó, những cây hoàng đàn, bách vàng hay thông Pà Cò trên đỉnh núi đá Việt Nam là những đại diện ở rìa phía nam của một nhóm từng thống trị thế giới. Sự hiện diện của chúng ở vùng nhiệt đới thường được giải thích bằng các thời kỳ khí hậu lạnh trong quá khứ địa chất: khi Trái Đất lạnh hơn, cây lá kim lan xuống thấp và xuống phía nam; khi khí hậu ấm lên, chúng rút lên núi cao và kẹt lại ở đó. Mỗi quần thể trên đỉnh núi vì thế giống một mẫu vật còn sót lại của khí hậu cũ.
Điều này cũng có nghĩa là khí hậu ấm lên hôm nay đẩy chúng vào thế khó: không còn chỗ nào cao hơn để rút lên nữa.
Năm loài tiêu biểu và câu chuyện của từng loài
Hoàng đàn (Cupressus tonkinensis). Cây thuộc họ Hoàng đàn, sống trên núi đá vôi vùng Đông Bắc. Gỗ, rễ và gốc có tinh dầu thơm, từng bị khai thác đến cả phần rễ dưới đất để cất dầu và làm đồ thơm. Quần thể tự nhiên hiện còn rất ít và rời rạc; loài được xếp vào bậc nguy cấp cao trong các đánh giá.
Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis). Được mô tả năm 2002 từ núi đá vôi cực bắc, là một phát hiện gây chú ý vì đó là cả một chi cây lá kim mới cho khoa học. Cây có hai kiểu lá trên cùng một cây, lá non dạng kim và lá trưởng thành dạng vảy. Quần thể được biết rất nhỏ, mọc trên đỉnh và sườn đá dốc.
Pơ mu (Fokienia hodginsii). Cây gỗ lớn có gỗ thơm, bền, được ưa chuộng làm đồ gỗ và quan tài. Phân bố rộng hơn hai loài trên, từ núi cao miền Bắc vào Tây Nguyên, nhưng cây lớn đã bị khai thác nhiều; nhiều quần thể chỉ còn cây nhỏ.
Thông đỏ (Taxus). Chi thông đỏ được cả thế giới chú ý từ khi một hoạt chất chống ung thư được tìm thấy trong vỏ một loài thông đỏ Bắc Mỹ. Nhu cầu nguyên liệu kéo theo việc bóc vỏ, chặt cây thông đỏ ở nhiều nước châu Á. Sau này hoạt chất được sản xuất bằng bán tổng hợp từ lá và nuôi cấy tế bào, nhưng thông đỏ hoang dã vẫn chịu sức ép.
Thông Pà Cò và thông năm lá Đà Lạt. Hai loài thông năm lá, một ở vùng núi đá vôi Tây Bắc, một ở cao nguyên Lâm Viên. Quần thể nhỏ, tái sinh kém, chịu sức ép từ đốt nương và mở rộng đất canh tác.
Vì sao cây lá kim Việt Nam khó tự phục hồi
Vấn đề đầu tiên là sinh sản. Nhiều loài cần rất nhiều năm mới ra nón, có năm sai có năm mất mùa, tỉ lệ hạt chắc thấp. Cây con nảy mầm trên đá vôi gặp ngay mùa khô khắc nghiệt và chết nhiều. Một quần thể vài chục cây trưởng thành có thể vài năm không có một cây con sống sót.
Vấn đề thứ hai là khai thác lấy đúng những cây lớn nhất, như đã xảy ra với hoàng đàn và pơ mu. Cây lớn là cây cho nhiều hạt nhất. Khi chúng bị lấy đi, phần còn lại của quần thể vừa ít cây vừa ít khả năng sinh sản.
Vấn đề thứ ba là quần thể nhỏ và rời rạc. Ít cây thì giao phấn giữa các cây có quan hệ họ hàng gần tăng lên, hạt yếu hơn. Một trận cháy, một mùa khô bất thường hay một lần lở đá có thể xoá cả một quần thể. Biến đổi khí hậu với mùa khô kéo dài hơn được xem là mối đe doạ mới với các loài sống ở giới hạn chịu đựng như trên đỉnh núi đá.
Cuối cùng là núi đá vôi bị khai thác làm vật liệu xây dựng và xi măng. Khác với rừng bị chặt có thể mọc lại, một quả núi đá bị phá thì nơi sống của loài đặc hữu trên đó mất vĩnh viễn.
Các mối đe doạ theo từng loài
Bảng tóm tắt, mức độ đe doạ cụ thể của từng loài nên tra theo bản Danh lục Đỏ và Sách Đỏ mới nhất.
| Loài | Nơi sống (mức vùng) | Mối đe doạ chính | Hướng bảo tồn đã có |
|---|---|---|---|
| Hoàng đàn | Núi đá vôi Đông Bắc | Khai thác gỗ, rễ lấy tinh dầu | Khu bảo tồn, nhân giống trồng bổ sung |
| Bách vàng | Núi đá vôi cực bắc | Quần thể quá nhỏ, khai thác gỗ | Giâm hom, trồng ở vườn sưu tập |
| Pơ mu | Núi cao miền Bắc tới Tây Nguyên | Khai thác cây lớn | Bảo vệ trong vườn quốc gia, trồng rừng |
| Thông đỏ | Núi cao miền Bắc, Tây Nguyên | Bóc vỏ, chặt lấy nguyên liệu | Bảo vệ tại chỗ, nhân giống |
| Thông Pà Cò | Núi đá vôi Tây Bắc | Đốt nương, tái sinh kém | Bảo vệ tại chỗ |
| Sa mộc dầu | Núi cao Bắc Trung Bộ | Khai thác gỗ thơm | Khu bảo tồn, nhân giống |
Có thể thấy hướng bảo tồn chung là kết hợp giữ cây tại chỗ với nhân giống vô tính để tạo nguồn cây trồng, giảm phụ thuộc vào hạt vốn rất thất thường.
Những việc đã làm và giới hạn của chúng
Từ khoảng đầu những năm 2000, các nhà thực vật học Việt Nam phối hợp với các vườn thực vật quốc tế đã tổng kiểm kê cây lá kim, lập bản đồ phân bố ở mức vùng, đánh giá bậc nguy cấp và xây dựng chương trình bảo tồn. Nhiều loài đã được giâm hom thành công, cây con được trồng trong vườn sưu tập và trồng bổ sung vào rừng gần nơi sống tự nhiên.
Một số quần thể nằm trong vườn quốc gia, khu bảo tồn, có lực lượng bảo vệ. Các chương trình gắn với cộng đồng địa phương, giao bảo vệ từng khu cây cho nhóm hộ gia đình, cho kết quả tốt hơn so với chỉ dựa vào biển cấm và tuần tra.
Giới hạn cũng rõ. Cây giâm hom từ ít cây mẹ thì đa dạng di truyền thấp; trồng nhiều cây giống hệt nhau chưa phải là cứu được loài. Nhiều quần thể vẫn nằm ngoài khu bảo vệ. Và vì cây lá kim mọc rất chậm, kết quả của một chương trình bảo tồn chỉ thấy được sau vài chục năm, dài hơn mọi dự án.
Mỗi người góp gì cho cây lá kim
Với người đọc phổ thông, việc thiết thực nhất là không dùng sản phẩm từ gỗ, rễ, tinh dầu của các loài cây lá kim quý có nguồn gốc rừng tự nhiên. Đồ thơm làm từ "gốc hoàng đàn", "rễ pơ mu" bán trên mạng nếu là thật thì gần như chắc chắn lấy từ rừng.
Khi leo núi, đi phượt qua vùng núi đá phía bắc, đừng bẻ cành, nhổ cây con làm cây cảnh, đừng đăng vị trí chính xác của cây lạ. Một cây lá kim nhỏ trên đá có thể đã hai chục năm tuổi.
Với giáo viên và học sinh, cây lá kim là một ví dụ rất tốt để kể về lịch sử sự sống: một nhóm cây đã tồn tại từ thời khủng long, nay còn sống sót ở vài đỉnh núi Việt Nam. Hiểu điều đó, người ta dễ thấy vì sao phải giữ những cây trông có vẻ bình thường ấy.
Một gợi ý cho buổi học thực tế: thay vì chỉ đọc tên loài, hãy cho học sinh so sánh lá kim, lá vảy, nón đực, nón cái của những cây lá kim trồng phổ biến như thông ba lá, kim giao trồng, bách tán. Khi đã quen với cấu trúc của nhóm cây này qua cây thường gặp, các em sẽ hiểu vì sao các nhà thực vật học hào hứng khi tìm ra một chi mới như bách vàng trên núi đá.
Câu hỏi thường gặp
Việt Nam có bao nhiêu loài cây lá kim?
Các công trình tổng kiểm kê ghi nhận khoảng ba mươi loài cây lá kim bản địa, tuỳ cách xử lý phân loại. Con số có thể thay đổi khi có loài mới được mô tả hoặc khi các nhà phân loại gộp, tách loài. Phần lớn số loài đó nằm trong nhóm bị đe doạ.
Bách vàng có phải là loài đặc hữu Việt Nam không?
Khi được mô tả năm 2002, bách vàng được biết chỉ từ Việt Nam. Sau đó có ghi nhận ở vùng biên giới phía Trung Quốc. Dù vậy, quần thể đã biết rất nhỏ và loài vẫn thuộc nhóm bị đe doạ nghiêm trọng.
Hoàng đàn và hoàng đàn rủ có phải là một không?
Không. Đây là hai loài cây lá kim khác nhau, có hình dáng cành và vùng phân bố khác nhau. Tên gọi dân gian giống nhau dễ gây nhầm lẫn; khi tìm hiểu nên đối chiếu tên khoa học.
Vì sao thông đỏ được nhiều người chú ý?
Vì chi thông đỏ chứa hoạt chất từng được phát hiện có giá trị trong y học. Nhu cầu nguyên liệu từng dẫn đến khai thác cây thông đỏ hoang dã ở nhiều nước. Thông đỏ hoang dã không nên được coi là nguồn nguyên liệu, và bài này không bàn về công dụng chữa bệnh.
Cây lá kim mọc trên đá vôi lấy nước ở đâu?
Rễ cây len sâu vào các khe nứt của đá vôi, nơi giữ nước và mùn. Lá kim hoặc lá vảy dày giúp giảm mất nước. Dù vậy, cây con rễ còn nông nên rất dễ chết trong mùa khô, đó là một lý do tái sinh tự nhiên kém.
Có nên trồng cây lá kim quý làm cảnh không?
Chỉ nên nếu cây giống có nguồn gốc nhân giống hợp pháp. Cây bứng từ núi đá thường chết khi đem xuống đồng bằng và mỗi cây bứng đi là một cá thể mất khỏi quần thể vốn đã rất nhỏ.